quan điểm văn học

Nhân đọc tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện, nhà văn đoạt giải Nobel Văn chương năm 2000, tôi dịch những quan điểm văn học quý giá của ông tại đây.

Một nhà văn là một người bình thường. Nhà văn không là người phát ngôn của nhân dân hay hiện thân của lẽ phải. Giọng nói của anh có thể yếu nhưng chân thực. Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là văn học chỉ có thể là tiếng nói cá nhân và luôn là như vậy. Một khi văn học được ví như bài thánh ca của dân tộc, ngọn cờ của chủng tộc, cơ quan ngôn luận của một đảng chính trị hay tiếng nói của giai cấp hay một nhóm, nó có thể được sử dụng như công cụ truyền thông hùng mạnh. Tuy nhiên, văn học đó làm mất đi những gì vốn có của văn học, và không còn là văn học. Nó trở thành vật thay thế cho quyền lực và lợi ích riêng cho cá nhân hay nhóm điển hình. Trong thế kỷ vừa kết thúc, văn học đã phải đương đầu với chính điều bất hạnh này, và bị chính trị và quyền lực gây nên nhiều vết sẹo hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó, và nhà văn cũng phải chịu sự áp bức chưa từng có. 

Để văn học bảo vệ lý do tồn tại của chính nó và không trở thành công cụ của chính trị, nó phải trở về với tiếng nói mang tính cá nhân. Vì văn học chủ yếu xuất phát từ xúc cảm cá nhân và là kết quả của cảm xúc. Điều này không có nghĩa là văn học phải tách khỏi chính trị hay nhất thiết phải tham gia vào chính trị. Văn học Trung Quốc trong thế kỷ 20 lần này đến lần khác đã bị hao mòn và thực sự gần như chết ngạt vì chính trị sai khiến. Cả cuộc cách mạng văn học đều thông qua những bản án tử hình đối với văn học và cá nhân. Cuộc tấn công vào văn hóa truyền thống Trung Hoa nhân danh cách mạng dẫn đến việc công khai cấm và đốt sách. Vô số nhà văn bị xử bắn, bỏ tù, lưu đày hoặc bị trừng phạt lao động khổ sai trong suốt 100 năm qua. Điều này cực đoan hơn bất cứ thời kỳ triều đại đế quốc nào trong lịch sử Trung Quốc, tạo ra những khó khăn to lớn cho các tác phẩm bằng tiếng Trung và thậm chí nhiều hơn cho bất cứ cuộc thảo luận nào về tự do sáng tạo. 

Người viết không lên tiếng trong một thời gian dài hay bị phụ thuộc vào ngôn ngữ cũng giống như việc tự sát. Nhà văn tìm cách trốn khỏi việc tự sát và để thể hiện tiếng nói của mình, không còn cách nào khác là phải sống lưu vong. Khảo sát lịch sử ở phương Đông và phương Tây cho thấy rõ điều đó: từ Khuất Nguyên đến Dante, Joyce, Thomas Mann, Solzhenitsyn, và một số lớn tri thức Trung Quốc lưu vong sau vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989. Điều này là số phận tất yếu của nhà thơ và nhà văn tiếp tục tìm cách bảo tồn tiếng nói của mình. 

Trong những năm Mao Trạch Đông thực hiện chế độ độc tài toàn diện, thậm chí bỏ trốn cũng không phải là một lựa chọn. Các tu viện trên những ngọn núi xa xôi, nơi ẩn nấu cho các học giả trong thời kỳ phong kiến, hoàn toàn bị tàn phá và viết trong bí mật là một sự liều mạng. Để duy trì sự tự chủ về trí tuệ, người ta chỉ có thể nói chuyện với chính mình, và nó phải được giữ bí mật một cách tối đa. Văn học quan trọng, văn học cho phép con người bảo tồn ý thức con người. 

Từ kinh nghiệm viết văn của tôi, tôi có thể nói rằng văn học vốn dĩ là sự khẳng định giá trị của bản thân con người và điều này được chứng thực trong quá trình viết. Văn học được sinh ra chủ yếu từ nhu cầu tự hoàn thiện của nhà văn. 

Trong lịch sử văn học, có rất nhiều tác phẩm có sức sống lâu bền nhưng lại không được xuất bản trong quãng thời gian tác giả sống. Nếu các tác giả không đạt được sự tự khẳng định trong khi viết, thì làm sao họ viết tiếp? Ngay cả bây giờ cũng khó xác định dược chi tiết về cuộc đời của 4 thiên tài đã viết những cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của Trung Quốc là Tây Du Ký, Thủy Hử, Kim Bình Mai và Hồng Lâu Mộng. Tất cả những gì còn lại là một bài luận tự truyện của Thi Nại Am và nếu ông không tự an ủi mình bằng cách viết, thì làm sao ông có thể cống hiến phần đời còn lại của mình cho công việc khổng lồ mà không nhận được đền đáp? Và đây chẳng phải là trường hợp của Kafka, nhà văn tiên phong trong tiểu thuyết hiện đại và Fernando Pessoa, nhà thơ sâu sắc nhất thế kỷ 20 hay sao? Việc họ gắn liền cuộc đời mình với ngôn ngữ không phải để cải tạo thế giới, và trong khi ý thức sâu sắc về sự bất lực của cá nhân, họ vẫn cứ nói ra, vì đó là sự kỳ diệu của ngôn ngữ. 

Ngôn ngữ là kết tinh sau cùng của nền văn minh nhân loại. Nó tinh tế, sâu sắc và khó nắm bắt, nhưng lại có sức lan tỏa, thâm nhập vào nhận thức con người, và liên kết con người, chủ thể nhận thức, với sự hiểu biết của chính mình với thế giới. Chữ viết cũng rất vi diệu vì nó cho phép giao tiếp giữa các cá nhân riêng biệt, ngay cả khi họ đến từ những chủng tộc khác nhau và thời gian khác nhau. Cũng chính bằng cách đó, thời nay được chia sẻ trong việc viết, và đọc văn học được kết nối với giá trị tinh thần vĩnh cửu của nó. 

Văn học vượt qua ranh giới quốc gia, thông qua các bản dịch, nó vượt qua ngôn ngữ, và sau đó là các phong tục xã hội cụ thể và các mối quan hệ giữa con người với nhau, để đưa ra những khám phá sâu sắc về tính phổ quát của bản chất con người. 

Thực tế, mối quan hệ giữa tác giả và độc giả luôn là mối giao tiếp thiêng liêng, và không cần phải gặp gỡ hay giao tiếp xã hội. Đó là sự giao tiếp đơn giản thông qua tác phẩm. Văn học vẫn là hình thức hoạt động không thể thiếu của con người, trong đó cả người đọc và người viết đều tham gia vào ý chí của họ. Loại văn học đã khôi phục được tính cách bẩm sinh của nó có thể gọi là văn học lạnh lùng (cold literature). Nó tồn tại đơn giản vì loài người tìm kiếm một hoạt động tinh thần thuần túy ngoài sự thỏa mãn của những ham muốn vật chất. Để nó tồn tại thì cần có sự sẵn sàng chịu đựng được nỗi cô đơn. nếu một nhà văn cống hiến hết mình cho loại hình viết lách này, anh ta có thể khó kiếm sống. Do đó, việc viết loại văn học này phải được coi là thứ xa xỉ, một hình thức thỏa mãn tinh thần thuần túy. Nếu loại văn học này có được cơ may xuất bản và lưu hành, đó là nhờ công sức của nhà văn và những người bạn của ông, Tào Tuyết Cần và Kafka là những ví dụ như vậy. Trong cuộc đời mình, tác phẩm của họ (gần như) không được xuất bản nên họ không thể tạo ra phong trào văn học hoặc để trở nên nổi tiếng. Những nhà văn này sống bên lề xã hội, cống hiến hết mình cho hoạt động tinh thần mà thời điểm họ không có hy vọng được đền đáp. Họ không tìm kiếm sự chấp thuận của xã hội mà chỉ đơn thuần bắt nguồn từ niềm vui thích viết lách. 

Nhà văn không thể lấp đầy vai trò của Đấng Tạo Hóa nên không nhất thiết phải thổi phồng cái tôi của mình lên bằng cách nghĩ rằng mình là Thượng Đế. Điều này chỉ gây rối loạn chức năng tâm lý, và biến anh ta trở thành người điên mà còn biến thế giới thành ảo giác, trong đó mọi thứ bên ngoài anh ta đều là luyện ngục và anh ta tự nhiên không thể tiếp tục sống. 

Nhà văn cũng không phải là nhà tiên tri. Điều quan trọng là sống trong hiện tại, không bị lừa dối, loại bỏ ảo tưởng, nhìn rõ ràng vào thời điểm này và đồng thời xem xét kỹ lưỡng bản thân. Thảm họa và áp bức thường đến từ người khác, nhưng sự hèn nhát và lo lắng của con người có thể làm tăng thêm đau khổ và hơn nữa là bất hạnh cho kẻ khác. 

Thay vì nói rằng Phật ở trong trái tim thì tốt hơn hết hãy nói rằng tự do ở trong trái tim, vì nó đơn giản phụ thuộc vào việc người ta có tận dụng nó hay không. 





No comments:

Trang Ps Blog. Powered by Blogger.