Ý nghĩa giáo dục và vì sao bạn chán ghét trường học?


Một số người vẫn hay bảo tôi rằng “nếu hồi xưa em không chọn học Ngoại thương, có lẽ, em đã theo đuổi việc học đến cùng. Chẳng hạn, trường Khoa học Xã hội Nhân văn chẳng hạn, vì nó có liên quan đến ngành nghề hiện tại của em”. Nhưng tôi không nghĩ vậy và tôi không tin vậy. Ngược lại, tôi cảm thấy may mắn vì tôi đã chọn Ngoại thương và từ đó, tôi có thể "học ở trường đời" sớm hơn một cách thoải mái. Một chị gái kia sau khi nghe tôi kể rằng tôi thích tìm hiểu triết học, chị liền bảo: “Nếu em chọn Đại học Tôn Đức Thắng, có lẽ, em đã sớm yêu Triết hơn”. Nhưng không, tôi yêu Triết học vì tôi yêu cái việc tự mày mò đọc về nó. 



Tôi khá thích quan điểm của triết gia Ấn Độ J. Krishnamurti, đặc biệt là sau khi đọc xong cuốn sách “Education & The Significance of Life” (Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống) của ông. Tôi có một số quan niệm tương đồng về trường học với ông. Trong đó, có một ý mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần vì nó đã chạm vào giấc mơ của mình: “Không một giá trị nền tảng nào có thể đạt được nhờ vào sự giáo dục đám đông, mà chỉ có thể nhờ vào việc học tập và thông hiểu những khó khăn, xu hướng và năng lực của từng đứa trẻ; những ai ý thức về điều này, những ai nghiêm túc trong việc muốn hiểu bản thân mình và giúp đỡ thế hệ trẻ nên ngồi lại với nhau, lập ra một ngôi trường mang ý nghĩa sống còn trong cuộc đời đứa trẻ, qua đó giúp em trở thành con người toàn diện và có trí tuệ. Để mở ra một ngôi trường như thế, họ không cần chờ đến khi có đủ các phương tiện cần thiết. Bất kỳ ai cũng có thể trở thành người thầy đích thực tại nhà, và những cơ hội sẽ chóng đến”.

Điều đáng tiếc ở nền giáo dục này là càng ngày, chúng ta càng phải học ở trong một lớp học quá đông đúc. Hồi mẫu giáo, lớp tôi có khoảng 20 bạn, không quá đông và vì thế, giáo viên có thể chăm chút cho từng sáng tạo, cảm xúc và trí tuệ của học trò. Lên cấp 1, số lượng này có nhiều hơn một xíu (23), mỗi bàn học hai học trò, và vì thế, giáo viên vốn có thể để ý sự tiến bộ của mỗi học sinh. Chỉ khi lên cấp 3, số học trò tăng gấp đôi, lớp tôi có đến 46 trò. Dường như, mỗi học sinh bị quan tâm một cách phớt lờ, và trường học mở ra lúc này không đơn thuần là nơi chia sẻ tri thức, mà là một dịch vụ chia sẻ tri thức. Người đứng đầu bộ máy quan tâm đến số lượng nhiều hơn, tổ chức nhiều lớp học (vô bổ) nhiều hơn, và thu tiền nhiều hơn. Mỗi học sinh ngập ngụa trong đống kiến thức và cố gắng gặm nhấm tất cả đống chữ trong một cuốn sách đến nỗi không có thời gian tĩnh lặng cho những sáng tạo của riêng mình. Thế lực phía trên tạo ra cuộc chơi kiến thức độc hại và khiến đám đông phải chao đảo vì nó. Các bậc phụ huynh đua nhau gửi con vào những lớp học khác nhau, mặc dù thâm tâm không muốn, nhưng đành tặc lưỡi để con mình không thua kém bất cứ ai. Nhưng thực ra là, họ không muốn họ thua kém bất cứ bậc phụ huynh nào khác và họ phóng chiếu “nỗi khổ” ấy lên con cái mình. Chính cái tư duy phân biệt với tổng thể này đã tạo ra sự so sánh hơn thua và khiến con người tự dấn thân bước vô đường cùng, và đấu tranh cho một cuộc đời chật hẹp thiếu tự do ấy.

Càng ngày chúng ta càng nhận thấy nhiều tin tức tiêu cực xảy ra ngay trong bộ máy giáo dục, từ mẫu giáo đến tiểu học, trung học và các cấp bậc cao hơn là đại học, cao học. Điều đáng tiếc nhất là những ám ảnh giáo dục ấy xảy ra nhiều nhất ở cấp mẫu giáo, tiêu học – khi những đứa trẻ đang độ non nớt và nhạy cảm nhất của cuộc đời. Ngay chính giảng đường đầy tri thức và văn minh, bạo lực diễn ra và chưa bao giờ chấm dứt. Thế hệ chúng tôi cũng là nạn nhân của cơn tức giận, bất bình của những người làm nghề nhà giáo. Họ sẵn sàng quẳng một chiếc thước gỗ xuống lớp và vô tư nhìn nó tạo ra hậu quả nặng nề với một học sinh. Em bị chảy móc, bầm trán và khóc lóc thảm thiết. Cuộc bạo hành chưa dừng lại ở đó, người giáo viên ấy còn lớn tiếng quát mắng và dọa nạt các học sinh khác, nếu còn hư thì không chỉ là một cây thước, sẽ còn nhiều cây thước hơn được làm ra để phục vụ cho cơn giải tỏa này của họ. Nhiều phụ huynh còn a dua và tỏ vẻ ủng hộ cách xử lý của thầy: “Dạ, thầy cứ mạnh tay vào. Nó hư thì đòn roi mới khiến nó tỉnh ngộ ra được”. Và thế, những năm tháng ấy đã khiến những đứa trẻ trở nên dè chừng, sợ hãi, và từ đó, người lớn đã khiến chúng chui vào khuôn khổ ngoan ngoãn giả vờ và mang uất hận tích tụ. Bạo lực giăng lối khắp các ngôi trường từ thành thị đến nông thôn, khiến các giải pháp tạm thời gây tranh cãi được đưa ra từ lắp camera đến thuê giám hộ quan sát… Nhưng tại sao con người không tự hỏi vấn đề này tại sao lại cứ tiếp tục tái diễn, mặc cho báo chí, truyền thông đưa tin ầm ĩ gần như mỗi giờ đồng hồ? Gốc rễ của vấn đề này ở đâu? Nó nằm ở giáo dục. Những người thầy, người cô gây ra bạo lực kia là kết quả sai của một hệ thống giáo dục (mục ruỗng), chỉ chú trọng vào kiến thức nặng nề, điểm số,… mà quên đi bài học về tình thương, lòng trắc ẩn, đối nhân xử thế… Họ đã phóng chiếu nỗi đau của mình lên học trò, và từ đó, giải quyết bất lực bằng bạo lực. Chúng ta luôn thấy rằng khi tức giận, ta thích làm vỡ một cái gì đó. Chúng ta giải quyết cơn tức sôi sùng sục trong lồng ngực bằng những hành động vật lý bên ngoài. Đập bể bình hoa, quăng điện thoại, xáo trộn căn phòng của mình, la hét và thậm chí đánh đập những người xung quanh… Một nền giáo dục sai lầm đã sản sinh nhiều tội phạm giết người, nhiều vụ án tàn bạo khó chấp nhận, thậm chí nó xảy ra ngay ở cả những người tri thức, học cao hiểu rộng. Vì rõ ràng rằng, chúng ta chăm chăm học hành để có kiến thức cho một công việc nào đó. Nhưng vốn dĩ, đó là kiến thức thiếu toàn diện, cái chúng ta cần là một trí tuệ toàn diện, mà trí tuệ toàn diện thì cần sự thấu hiểu cảm xúc và lòng trắc ẩn.

Người thầy đầu tiên của tôi có cậu con trai 4 tuổi, và anh ưa thích việc tự giáo dục con ở nhà và thông qua những chuyến đi hơn thay vì việc gửi con cho một trường mẫu giáo phổ thông nào đó. Anh coi trọng những năm tháng đầu đời của con, và việc gửi gắm con vào một trường học sai lầm có thể ảnh hưởng đến cách tư duy sau này của bé. Việc gieo một hạt mầm sai chỗ có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nó sau này. Anh kể lại một câu chuyện “ở nước mình, mặt trời luôn màu vàng” khiến tôi ám ảnh một thời gian dài. Trong lớp học vẽ, có một cậu bé duy nhất vẽ mặt trời màu hồng khiến giáo viên bộ môn tức giận: “Mặt trời màu vàng mà, em chuyển màu ngay cho cô”. Cậu bé khóc toáng lên và nhất quyết không chịu đổi màu. Em bảo rằng em đã từng thấy mặt trời màu hồng. Cô giáo tức giận phạt em đứng một chân lên bảng trong vòng một tiếng đồng hồ. Phải chăng, sáng tạo cũng bắt buộc phải ở trong một khuôn khổ nhất định? Ngay cả nhà trường còn không tạo điều kiện tự do cho trí tuệ và sáng tạo phát triển, liệu đó có còn gọi là nhà trường nữa hay không?

Chúng ta luôn có tư duy đổ lỗi, và vì thế, chúng ta thiếu đi những người thầy tiên phong. Những người thầy hiện tại cũng a dua theo cách giảng dạy và ứng xử như bộ máy chung của nó, và khi có một trường hợp bạo lực nào xảy ra, họ thở phào nhẹ nhõm coi như đó là “chuyện nhà người ta”. Thay vì chờ giáo dục thay đổi, chính mỗi người thầy phải tự thay đổi chính họ. Thay vì chỉ chăm chăm vào những bảo giảng của mình, họ phải là người hiểu được cơn tức giận trong họ đến như thế nào, tự mình quan sát nó và trấn an nó. Và cơn tức giận, bất bình của học trò cũng vậy, họ phải là người bình tĩnh quan sát và đưa đến cho trò lời giải đáp cuối cùng. Trường học không thể triệt tiêu sự bất bình ở nơi trò. Khi nào trò còn bất bình, trường học đó còn sáng tạo. Bất cứ trường học nào còn dành thời gian giải quyết sự không thỏa mãn của bất cứ thành viên nào trong trường, trường học đó mới là trường học lý tưởng. Càng lớn lên, con người càng bù đầu trong công việc. Và việc phải giải quyết thêm một công việc khiến họ ngỡ như không thể chịu đựng nổi nữa. Và thế, họ ghét những trò nào “lắm chuyện” vì họ sợ bị làm phiền, sợ tốn thời gian, họ sợ đủ thứ. Ít người thầy nào hạnh phúc với bất mãn của trò, và khi người thầy đó hạnh phúc một cách thật tâm và niềm hạnh phúc ấy bộc phát một cách tự nhiên, hành trình khám phá trí tuệ giờ đây được thăng hoa và leo lên một nấc thang hoàn toàn mới.

Trí tuệ cũng giống như sự thấu hiểu xúc cảm của mình và của người, đều có thể tự rèn luyện. Một người nóng tính có thể trở thành một người điềm tĩnh khi anh ta chấp nhận và không lảng tránh sự nóng tính của mình để từ đó,  tìm hiểu căn nguyên của “căn bệnh” và giải quyết nó tận gốc. Nhưng để đạt được kết quả sau cùng này, họ bắt buộc phải là những kẻ tĩnh lặng (mindfulness). Họ không nhất thiết phải thực hành thiền định để đạt được sự tĩnh lặng, họ cần tập trung và nhận thức được mọi thứ như chúng đang là để đạt đến cảnh giới an nhiên ấy. Một người thầy bận trăm công ngàn việc vẫn có thể dành ra 10 phút mỗi ngày để thực hành chánh niệm. Ngay cả tỷ phú Bill Gates cũng thực hành thiền 2 đến 3 lần mỗi tuần, mỗi lần khoảng 10 phút. Ông tập quan sát các suy nghĩ của bản thân, để những tất bật và ưu phiền lắng mại, lúc này mặt hồ bỗng phẳng lặng và chính bạn có thể nhìn thấy đáy của chính mình. Ấy là tiềm thức. Thầy cô là học trò của những đứa trẻ trong khái niệm tĩnh lặng. Đứa trẻ không biết phán xét, không so sánh hơn thua, không ưu phiền và chúng có sự tĩnh lặng tuyệt đối. Trường học, thật tiếc, lại chính là tác nhân tạo ra cái tôi cho đứa trẻ, để chúng hết sự tĩnh lặng khi chúng lớn lên, trưởng thành và tiếp nối cuộc đời bất ổn như chính người thầy đã từng dạy chúng. Khi người thầy có được sự tĩnh lặng và nỗ lực để đạt đến sự tĩnh lặng, họ bắt đầu hiểu chính mình và khi đó bạo lực ở trường học dần rơi vào dĩ vãng.

Khi tôi nhắc đến khái niệm tĩnh lặng ở những người thầy vì tôi muốn nhấn mạnh một điều rằng, chúng ta đã cho tâm trí mình tiêu hóa quá nhiều kiến thức nặng nề để nó trở nên kiệt quệ. Nó cần những giây phút ngơi nghỉ, đó là lúc tâm trí thực hiện hành trình quay vào bên trong, dù cô đơn nhưng đầy tự do. Hành trình quay vào bên trong luôn khó khăn vì chúng ta đã quen với việc tập trung vào việc rèn luyện những thứ bên ngoài. Gym, thể dục, yoga… luôn dễ dàng hơn ngồi thiền hay thực hành chánh niệm, chẳng qua là vì thói quen và sự tiếp nối giáo dục coi trọng bề ngoài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng có phải cứ ngồi xuống với tư thế khoanh chân thì mới thực hành sự tĩnh lặng được? Tôi không nghĩ thế. Người thầy có thể bắt hai tay sau lưng, đi dạo giữa khuôn viên trường, tưới nước cho vườn rau, chạy thể dục, quét sân… và quan sát những ý nghĩ nảy lên trong tâm trí, chấp nhận nó, để nó trôi đi và rồi, cảm giác an yên bắt đầu trở thành phần thưởng cho nỗ lực tuyệt diệu này.

Tôi muốn mở một ngôi trường ở nơi nhiều cây, hải đảo hay có những cánh đồng trải dài bất tận. Ngôi trường ấy không cần lớn, và tôi cũng không cần yếu tố đám đông. Tuyệt vời nhất là các học trò từ nhiều nơi khác trở về học, mỗi lớp học cũng chỉ nên dưới 10 người, và kéo dài trong vòng 6 tháng. Nếu bất cứ trò nào muốn bổ túc kiến thức, họ sẽ đến vào năm sau, để học một môn học nào đó khác chẳng hạn. Vì mỗi học kỳ học, học trò đăng ký một môn, kéo dài trong vòng 6 tháng với đa số các trải nghiệm thực tế.  Trường sẽ đóng cửa vào mùa đông thay vì mùa hè. Chúng tôi sẽ dạy những môn triết học trải nghiệm, lý tưởng, thiền định, thực hành chánh niệm,… Độ tuổi nhận vào học sẽ từ 18 tuổi trở lên, khi học trò chính thức tốt nghiệp cấp 3. Ở độ tuổi sau 25, chúng ta có nhu cầu trải nghiệm tâm linh và trường học sẽ dạy thêm những môn về triết học chánh niệm, triết học thiền định, triết học sáng tạo… hay tâm lý học.

Bạn tự hỏi trong quá trình học này, học trò sẽ ở đâu? Họ có thể ở trong ký túc xá của trường, hoặc ở những ngôi nhà dân cư xung quanh. Họ sẽ cần thực hành lối sống tối giản để đơn giản hóa các lựa chọn. Khi thực hành một lối sống tối giản, tâm trí ta càng chừa nhiều chỗ trống cho những suy nghĩ sáng tạo. Khi lựa chọn loại trường học này, học trò phải là người chịu trách nhiệm cho quyết định của họ vì đây không phải là một ngôi trường sinh ra để cấp bằng cho trò sau khi họ tốt nghiệp. Nếu mục đích là học để lấy một tấm bằng, bạn có thể bỏ tiền ra để mua một tấm bằng chứ không cần đi học. Chúng ta hướng tới những cá thể có tư duy độc lập chứ không phải tư duy dựa trên nhu cầu của đám đông. Tại sao hầu hết học sinh sau khi tốt nghiệp cấp 3 lại vào đại học, cao đẳng? Phải chăng vì thế hệ trước và trước đó đều như thế? Nếu bạn lựa chọn khác đi, bạn cảm thấy không an toàn, chính nỗi sợ đó khiến con người không thể sáng tạo, không tự sản sinh ra tri thức cho mình và càng không thể suy nghĩ một cách độc lập. Chúng ta chỉ đơn thuần là vay mượn kiến thức, rồi nhại lại theo những gì đã được học. Như thế, chúng ta không thể tạo ra tác phẩm của cuộc đời mình.

Mỗi năm, những đại học danh tiếng như Standford hay Harvard đều quá tải sinh viên đặt lịch riêng với bác sĩ tâm lý. Việc học không thể biến thành việc nhồi nhét kiến thức, chỉ khi học mà ta cảm thấy vui và hạnh phúc với nó, tinh thần của ta mãn nguyện với sự học đó, ấy mới là một trường học thành công. Thế nhưng, một điều đáng buồn là ngoài đại học – khi học trò đã ở độ tuổi trưởng thành, chúng ta liên tục bị khủng bố tinh thần khi thấy con em mình ở bậc tiểu học, trung học cũng đang rơi vào tình trạng quá tải kiến thức. Nhiều đứa trẻ bị trầm cảm mà cha mẹ không hề hay biết. Nhà triết học Anh quốc Francis Bacon đã từng phát biểu: “Tri thức là sức mạnh”, nhưng ông không bảo nhồi nhét kiến thức là đúng đắn. Chúng ta đề cao tầm quan trọng của tri thức trong đời sống nhưng tiếp cận nó như thế nào cho đúng đắn thì không nhiều trường học và cá nhân đạt đến phương thức hoàn hảo. Cụ thể như ở Việt Nam, trường học dạy học dường như chỉ đáp ứng cho nhu cầu thi cử, và thứ hạng của trường sẽ ra sao sau kỳ thi đó, nếu đặt gánh nặng thi cử qua một bên, có lẽ, trường học và những cá nhân là người thầy trong đó sẽ tự tin hơn trong việc sáng tạo bài giảng. Thế nhưng, ít cá nhân nào tiên phong phá vỡ quy tắc cứng nhắc ấy. Chúng ta vẫn thấy một dạng toán được giảng đi giảng lại nhiều lần, chúng ta thấy nhiều giáo viên chưa giải thích được cho học sinh hiểu liệu đạo hàm hay tích phân có ý nghĩa ra sao trong ứng dụng thực tế vì họ chưa bao giờ ứng dụng. Thế nên, giáo viên đang dừng lại ở am hiểu kiến thức lý thuyết chứ chưa am hiểu tri thức toàn diện, bao gồm lý thuyết và thực hành. Ngay cả ngữ văn cũng như vậy, chúng ta dừng lại ở giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật của một đoạn trích ngắn ngủi trong một tác phẩm mà chưa bao giờ tạo điều kiện để học trò vùng sâu vùng xa tiếp cận toàn bộ tác phẩm đó. Giáo viên ngữ văn lẽ ra phải là những người truyền cảm hứng cho các em đọc sách và viết lách, nhưng chúng ta lại chưa làm được điều đó. Thư viện trường vô cùng nghèo nàn và trẻ em cực kỳ đói sách. Chúng ta nghĩ một cuốn sách giáo khoa 200 trang là dày vì chúng ta lặp đi lặp lại các bài học trong đó quá nhiều, và cuốn sách ấy nhàm chán đến nỗi các em học sinh chú ý vào sự dày cộm của nó.

Hệ thống giáo dục của chúng ta đã đi vào một chiếc khuôn đúc sẵn từ đó tạo ra những con người bước ra từ một chiếc khuôn y hệt nhau. Thế nên, các bậc phụ huynh nên tạo điều kiện để con em mình bước ra chiếc khuôn ấy càng sớm càng tốt. Cha mẹ phải là những người có tư duy cởi mở hơn bao giờ hết về việc học, vì họ là người định hướng sự học cho con cái mình. Họ phải vượt qua định kiến xã hội, thoát ra những mâu thuẫn nội tâm lẫn tâm trí, và không được phép để cái tôi cá nhân lấn át quyết định sáng suốt của mình. Một khi phụ huynh còn ham muốn con mình đứng đầu lớp, đầu trường, chiến thắng giải này giải nọ, họ sẽ cho phép cái tôi của con mình hoành hành để đứa con quên mất rằng theo đuổi tri thức là mục đích cuối cùng cuộc đời chứ không phải thành công. Bất cứ ai nhắm vào thành công trong đời, họ sẽ gặp phải mặt kia là thất bại. Và họ sẽ uất hận và không chịu đựng nổi sự thất bại đó. Bởi thể, mục tiêu và giá trị sống của mỗi con người là vô cùng quan trọng, chỉ cần giáo dục sai cách, chúng ta sẽ cho ra một con người sai trái. Nếu nhà trường luôn khuyến khích học trò học để trở thành người thành công về sau, học trò có thể bị cái vầng hào quang chưa đạt được ấy làm cho lóa mắt.


Bộ phim về giáo dục nên xem:

1. Freedom Writers

2. To sir, with love 1967

3. Up the Down Staircase

No comments:

Trang Ps Blog. Powered by Blogger.