Sống theo cuộc đời hay tách khỏi cuộc sống?

Trong một lần ngồi thảo luận những câu chuyện kỳ bí về vũ trụ cùng nhóm người trẻ, cô bạn ngồi đối diện tôi mới đưa ra một vấn đề hết sức thú vị để bàn: “Chúng ta đã được học về không gian 3 chiều, vậy liệu có không gian 4 chiều không?”

Tôi mới dẫn giải ra một trường hợp lấy con giun là một ví dụ để mọi người cùng suy ngẫm. Con giun không thấy ánh sáng mặt trời, nhưng mặt trời có tồn tại. Có những thứ vì sự hạn chế của giác quan, ta đã không nhìn thấy chiều không gian khác vì ta thiếu đi giác quan cảm nhận điều đó nhưng không gian đó có tồn tại. Vậy vấn đề đặt ra là chiều không gian thứ tư kia là gì?



Khi không gian trở nên tĩnh lặng. Tôi liền đột ngột giơ tay đưa chiếc cốc sát mặt bạn ngồi kế bên, thao tác nhanh chóng và bất ngờ khiến bạn quay mặt ra đằng sau để tránh dù chiếc cốc vẫn cách mặt bạn một quãng an toàn. Trước khi mọi người kịp định hình vấn đề, tôi tiếp tục câu chuyện của mình:

“Trường hợp vừa rồi, tôi giả vờ quẳng chiếc cốc vào mặt bạn này, bạn ấy tránh lập tức. Đó là một hành động vô thức.”

“Vô thức nghĩa là gì ạ?” – Một bạn tò mò.

“Vô thức ở đây là tầng không suy nghĩ và chúng ta không thể tìm được vô thức, nhưng nó vẫn tồn tại trong ta và điều khiển ta. Nhưng vấn đề là vô thức sống trong chiều không gian khác ý thức. Chẳng hạn, người lái xe mải trò chuyện với hành khách, lúc này, anh ta đang lái trong vô thức”

“Ý thức tồn tại trong chiều không gian 3D không?”

“Đúng vậy. Nói thêm về vô thức. Các bạn có bao giờ cảm nhận được điều gì đó xấu hoặc tốt sắp sửa xảy ra? Chẳng hạn, cảm giác bất an rằng có người trong gia đình xảy ra chuyện gì đó và đột nhiên điều đó lại diễn ra?”

“Đúng vậy.” – Mọi người trầm ngâm gật đầu.

“Ta gọi đó là trực giác. Có một số người được khai mở những giác quan khác và giác quan đó cảm nhận được chiều nào đó của vô thức. Lúc này, vô thức không hề phụ thuộc vào khung thời gian. Ý thức không có sóng nhưng vô thức thì có sóng.”

“Bạn có thể nói rõ hơn được không ạ?”

“Khi vô thức phát ra, não bộ cho phép vô thức và ý thức kết nối với nhau. Như ví dụ về anh tài xế lái xe trong vô thức nhưng vẫn ý thức được nhiệm vụ lái xe của anh ta. Vô thức tác động lại ý thức, nhưng tác động chiều nào thì rất khó nhận ra nhưng sự tác động ấy đó có xảy ra. Khi con người ta nghĩ nhiều về cái gì thì điều đó sẽ hằn sâu trong vô thức. Một ví dụ rất gần gũi với bất cứ ai là thói quen. Hành động lặp đi lặp lại ấy đã hằn sâu vào trong vô thức của mỗi người.”

“Còn thiền thì sao?” – Anh chàng kia chuyển hướng đề tài.

“Theo tôi, những gì tập trung vào hiện tại được gọi là thiền. Nếu họ tập trung vào khía cạnh hiện tại, thiền cho phép ý thức không động nữa. Họ không lo lắng về tương lai hay buồn phiền về quá khứ. Ý thức lúc này như mặt hồ tĩnh lặng, và đáy hồ chính là vô thức, lúc này ta mới có thể nhìn thấy đáy hồ.”

“Nhưng có vẻ hiếm người mới có thể lặng về ý thức...”

“Suy nghĩ của chúng ta luôn luôn có. Thiền cho phép con người đủ tĩnh về mặt ý thức. Nhưng không phải ý thức mất hẳn hay mất kiểm soát mà nó lắng lại. Và cách lắng lại duy nhất là tập trung vào hiện tại.”

Dừng lại một lúc, tôi tiếp:

“Tôi sẽ kể cho các bạn nghe về Đức Phật. Đức Phật giác ngộ được vì ông ta hoàn toàn chìm sâu vào vô thức, tức Đức Phật có thể dùng vô thức để cảm mọi thứ. Vô thức được kết nối với nhau trên toàn vũ trụ, thoát khỏi rào cản về không gian và thời gian.”

“Đức Phật đã thiền như thế nào ạ?”

“Đức Phật thiền bằng nhiều phương pháp. Đầu tiên, ông ta dùng phương pháp thiền khổ hạnh, tức mỗi ngày chỉ ăn một hạt đậu để sống, nhưng rồi ông ta phát hiện rằng thiền không nhất thiết phải ăn chay. Thiền từ Yoga phái sinh ra. Trong quá trình phát triển, con người ta bắt đầu quan tâm đến vấn đề sức khỏe. Yoga chú trọng vào rèn luyện thân thể, họ quan niệm khi thân thể đẹp thì tinh thần thoải mái hơn nhưng như vậy không sâu được. Họ bắt đầu tìm hiểu phương pháp khiến mình khỏe lên, họ sáng tạo ra nhiều cái mới, lọc cái không cần thiết và giữ cái cần thiết. Vì thế mà thiền ra đời. Thiền tập trung vào hơi thở, giúp ý thức con người tĩnh lại. Có nghĩa, trước Đức Phật đã có nhiều người thiền rồi chứ ông ta không tạo ra thiền.”

“Tại sao ông ta bỏ thiền khổ hạnh ạ?”

“Thoạt đầu, Đức Phật học thiền khổ hạnh, nhưng mãi mà không đạt được mục tiêu mà ông ta mong muốn. Khi không có năng lượng, thể xác trở nên quá mệt dẫn đến ý thức không hoạt động được và điều đó làm ảnh hưởng đến thiền.”

“Vậy thiền là tập trung vào vô thức ạ?”

“Chúng ta không thể tập trung vào vô thức, nhưng ta có thể điều khiển ý thức của mình và khi ý thức của họ tập trung vào hiện tại thì vô thức hiện lên. Cũng giống như khi mặt hồ phẳng lặng thì ta có thể nhìn thấy đáy.”

“Vậy thiền là phải thông qua ý thức đúng không ạ?”

“Đúng vậy. Con vật không thể thiền vì nó không sống bằng ý thức mà nó sống bằng bản năng. Con người thiền được, vì họ có ý thức. Ý thức của bạn phân biệt bạn với tổng thể, chính sự phân biệt đó mà có sự so sánh hơn thua, chúng ta gọi là bản ngã.”

“Đức Phật có bản ngã không ạ?”

“Đức Phật không so sánh hơn thua, mục đích của giác ngộ là mất cái tôi, chỉ còn lại vô thức, mất ý thức. Ông ta đạt trạng thái dùng vô thức, ý thức đã thông hết rồi. Khi bản ngã mất đi, ta mới giác ngộ được.”

“Vậy tại sao Đức Phật lại muốn giác ngộ ạ?”

“Đây là một câu hỏi rất thú vị. Tôi nghĩ chúng ta có hai lựa chọn cách sống cho mình. Một là sống theo cuộc đời, tận hưởng cuộc sống mà vẫn cân bằng. Hai là tách khỏi cuộc sống, như Đức Phật, ông ta đi tu, thoát khỏi khổ đau. Phật Giáo có câu nói đời là bể khổ. Chính vì thấy sự đau khổ diễn ra khắp mọi nơi, ông ta đã muốn giác ngộ để được an nhiên. Các bạn hãy nhìn trẻ con, chúng lúc nào cũng an nhiên, vì chúng đâu lo nghĩ về tương lai hay hối hận, buồn phiền về quá khứ. Trẻ con là một dạng thiền. Như tôi nói về Đức Phật, đó là một trạng thái.

P/s: Đây là bài viết mà tôi nhớ lại dựa trên cuộc trò chuyện giữa tôi và một người anh. Các bạn đọc tham khảo, không có đúng sai, thấy phù hợp thì tiếp nhận, không thì có thể bỏ qua.

No comments:

Trang Ps Blog. Powered by Blogger.